Chào mừng đến với Diễn Đàn Tuổi Trẻ Bến Tre Online.
Đất và Người Bến Tre: Phan Thanh Giản (1796- 1867) tự là Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu là Ước Phu, Lương Khê; là một danh sĩ, một đại thần triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam... xem chi tiết
Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Dừa Đậu Trái
    Ngày tham gia
    27/03/2012
    Bài viết
    2,426

    Cảm nhận của em về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

    A. Hướng dẫn tìm hiểu đề

    - Xác định vấn đề nghị luận: nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

    - Xác định luận cứ, luận chứng.

    - Phạm vi tư liệu: bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

    - Thao tác lập luận : phân tích, bình luận, nêu cảm nhận.

    B. Hướng dẫn lập dàn ý

    I. Mở bài

    - Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ ca lãng mạn 1930-1945.

    - “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử nằm trong tập “Thơ điên” (hay “Đau thương”) được chính nhà thơ tập hợp lại vào 1938.

    - Bài thơ thể hiện nổi cô đơn, tuyệt vọng của một con người trong thế giới đau thương đối với cuộc đời đầy niềm vui, ánh sáng bên ngoài.

    II. Thân bài

    a. Thiên nhiên con người xứ Huế trong buổi bình minh

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

    - “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” : câu hỏi tu từ - là lời của Hàn Mặc Tử tự phân thân ra để hỏi mình đồng thời vừa mời mọc, trách móc với cả một niềm tiếc nuối. Từ sự phân thân đó, tiếp theo Hàn Mặc Tử đã làm một cuộc hành trình trở về thăm thôn Vĩ trong tâm tưởng. Từ đó, thôn Vĩ đã hiện ra với vẻ đẹp thanh khiết.

    - “Nắng hàng cau” đó là thứ nắng mai in trên hàng cau. Trong vườn, cau là loại cây cao nhất vượt lên trên hết các loại cây khác vì thế cau thường bắt được những tia nắng đầu tiên trong buổi bình minh. Trong đêm lá cau thường được sương đêm tắm gội cho nên nó luôn giữ được vẻ tươi mới. Khi hàng cau bắt được nắng thì sẽ tạo ra nắng hàng cau – thứ nắng vàng hanh, mượt mà, long lanh, tinh khiết.

    - Mặt trời càng lên cao thì nắng ngập dần khu vườn, đến lúc tràn đầy thì nắng sẽ biến cả khu vườn trở nên xanh thẩm như một viên ngọc lớn. Đặc biệt cách dùng từ ngữ độc đáo : “mướt quá”, “xanh như ngọc” – làm nỗi bật ánh xanh và sắc xanh. Cách diễn đạt đó làm tôn lên vẻ đẹp đơn sơ mà hết sức lộng lẫy của vườn Vĩ Dạ.

    - “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” : con người thôn Vĩ xuất hiện với vẻ đẹp phúc hậu, hiền từ. Con người hòa quyện với thiên nhiên mang vẻ đẹp kín đáo mờ ảo.

    b. Đêm trăng Vĩ Dạ

    “Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?”

    - Vẫn là cảnh sắc thiên nhiên nhưng trong khổ thơ này cảnh đã được “lạ hóa” in đậm cái Tôi đau thương của nhà thơ. Cảnh có gió, mây, hoa, dòng nước, hoa bắp, con thuyền, bến sông…Nhưng tất cả không một chút ràng buộc, không một mối dây liên hệ với nhau. Trong tự nhiên gió và mây không tách rời nhau. Gió có thổi thì mây mới bay và mây bao giờ cũng bay theo gió. Nhưng ở đây, mây và gió đã chia lìa, đoạn tuyệt với nhau.

    - Trong cái xu thế tất cả dường như đều chia lìa, li tán. Trăng đã xuất hiện cùng với con thuyền, bờ bến và dòng sông.

    - Sự liên tưởng đầy biến hóa táo bạo của nhà thơ qua hình ảnh “sông trăng” con thuyền “chở trăng”. Có thể hiểu hình ảnh “sông trăng” theo hai cách: trăng tỏa sáng xuống dòng sông, nước sông phản chiếu ánh trăng hay ánh trăng tan biến thành nước nên dòng sông hóa thành “sông trăng”.

    - Trên dòng sông là con thuyền chở trăng về cập bến thời gian “tối nay”. Sự liên tưởng đầy biến hóa đã làm cho hai câu thơ tràn ngập ánh trăng. Điều đó ít nhiều làm mờ nhạt đi tâm trạng khắc khoải, thản thốt của nhà thơ ẩn đằng sau hình ảnh trăng, nước.

    c. Tâm trạng băn khoăn, hoài nghi

    “Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?”

    - Câu thơ thứ nhất trong khổ thơ được ngắt nhịp 4/3. Trong đó có ba âm tiết được lập lại tạo thành điệp ngữ “khách đường xa”. Cách ngắt nhịp đó cùng với phép điệp ngữ tạo nên nhịp điệu gấp gáp, hối hả như một lời khẩn khoản, níu kéo trong tuyệt vọng.

    - Hình ảnh người con gái xuất hiện trong mơ tưởng với sắc áo trắng, trắng đến nổi nhà thơ thản thốt “nhìn không ra”.

    - “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” : Hàn Mặc Tử dùng hình ảnh “mờ nhân ảnh” để chỉ cái tôi đau thương của mình. Cái tôi nhạt nhòa không ra đường nét, tồn tại mà như không tồn tại nữa. ( “Cái quay búng sẵn trên trời – Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” – “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều). Một sự nhìn nhận đầy mặc cảm. Cái tôi ấy đối lập với con người mặt chữ điền, mặt áo trắng ở cõi đời ngoài kia.

    - Trong câu thơ kết - nhà thơ dùng đại từ phiếm chỉ “ai” – “Ai” ở đây có thể là người thôn Vĩ hay bất kì ai hiểu được, cảm thông được cho nỗi đau riêng tư của Hàn Mặc Tử. Cách diễn đạt phiếm định này hé mở cho ta thấy sợi dây tình cảm, sợi dây níu kéo, nối kết hai thế giới – thế giới thôn Vĩ và thế giới đau thương của nhà thơ để hi vọng.

    Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh đẹp, thơ mộng về một miền quê đất nước là tiếng lòng của con người tha thiết yêu đời, yêu người.

    III. Kết bài

    Bài thơ có cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, có mối tình đẹp nhưng ẩn khuất đằng sau là tình cảm hết sức đáng trân trọng và cảm thông của Hàn Mặc Tử.
    Sưu tầm
    Đang tải dữ liệu...
     

  2. #2
    Dừa Mới Ra Lá
    Ngày tham gia
    05/02/2014
    Bài viết
    70
    Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận "cái tình" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử.

    Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.

    Khổ thơ thứ hai đột ngột chuyển sắc thái của cảnh:

    "Gió theo lối gió mây đường mây
    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay?"

    Cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thì mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tả vô tình, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

    Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình lại thay đổi:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn. Hình ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. Tình cảm ấy quả thật là tình cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).

    Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tình trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:

    “Mơ khách đường xa khách dường xa
    Áo em trắng quá nhìn không ra
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
    Ai biết tình ai có đậm đà?”

    Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với mình, tâm trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.

    Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử để lại trong lòng người đọc những tình cảm đẹp. Bài thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.

  3. #3
    Dừa Mới Ra Lá
    Ngày tham gia
    05/02/2014
    Bài viết
    70
    Hàn Mặc Tử được xem như là một ngôi sao sáng chói trên bầu trời của phong trào thơ mới với những dòng cảm xúc sâu lắng. Linh hồn thơ của ông dường như đang tha thiết với cuộc sống trần tục nhưng cũng vừa hướng tới những mảnh đất thần tiên nơi mà mọi chúa trời và tạo hoá đã ban tặng. Trái tim đương yêu thương nồn nàn của Hàn Mặc Tử đã kết tinh những vần thơ thành một hình ảnh tuyệt mĩ hôn nhiên, trong trẻo đến lạ thường. Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" là một minh chứng cho một tình yêu dạt dào nhưng trong trắng, mõ mộng đơn phương vô vọng trong thơ Hàn.
    Thật vậy, mở đầu bài thơ là lời trách thầm cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng người yêu của nhân vật trữ tình trong một tâm trạng thẫn thờ nhớ mong:

    "Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
    Vờn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền"

    Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể thì mối tình của nhân vật trữ tình trong bài thõ này gắn với vườn tược và con người "thôn Vĩ Dạ" với những kỉ niệm thật khó quên. Có dịp xin mời bạn hãy về thăm thôn VĨ vào một buổi sớm mai, Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế không đầy một giờ đi tản bộ. Từ xưa, thôn Vĩ Dạ đã nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, vớinhững biệt thự nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thớng dýới màu xanh của cây lá. Vĩ Dạ cũng nỗi tiếng nhý sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ của xứ này. Bởi vậy, ta thấy làm ngạc nhiên khi thấy những nghệ sĩ đều có tên tuổi và những sáng tác của họ cảm nhận từ nơi này. Sớm mai, nắng chiếu xuống những giọt sương đọng trên cỏ hay trên những hàng cây long lanh nhý những viên ngọc. Khách từ xa tới đây sẽ thấy và cảm nhận hình ảnh hàng cau, đất đai Vĩ Dạ phì nhiêu, được con người chăm sóc tươi tốt nên cây cối đều xanh tươi, mơn mởn lá rợp cả một vùng. Nhìn những hàng cau đó trông sạch sẽ như vừa mới được lau chùi, mài giũa như những cành vàng lá ngọc. Câu thơ; "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" thật là một con người đẹp. Bức tranh đấy hiện lên qua con mắt của người đọc đó là một cảnh chiều tà, một thiếu nữ đứng trên bờ con sông Hương êm đềm xuôi mái. Gắn khép lại, vài cành trúc đó cảm giác như thật nhẹ nhàng bâng khuâng. Vâng, khuôn mặt chữ điền, đó là một khuôn mặt đẹp. Đọc nó ta liên tưởng đến một khuôn mặt vuông vức, rắn chắc của một chàng trai nhưng ở trong bài thơ, khuôn mặt đó không phải của một người đàn ông mà ngược lại, hoàn toàn là của một cô gái thôn quê, thuỳ mị, nết na duyên dáng. Nó thật hài hoà, gắn bó mật thiết giữa con người với vườn tược quê hương. Không chỉ vậy, câu thơ còn khắc hoạ thành công một nét đáng nhớ, đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ tốt tươi, con người hiền hậu. Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ thơ đầu, dường như ở khổ thơ thứ hai, tác giả đã dành cho việc tả cảnh sông nước mây trời xứ Huế và cũng bộc lộ rõ hoài niệm bâng khuâng của tác giả:

    "Gió theo lối gió, mây đường mây
    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay?"

    Nhịp điệu dịu dàng, khoan thai của xứ Huế được khắc hoạ rất thành công: Gió mây thì nhẹ nhàng trôi, dòng nước sông Hương thì lững lờ trôi, hoa ngô chỉ khẽ khàng đung đưa theo làn gió...Khác với khổ thơ một, dườngnhư ở khổ thơ thứ hai, không gian mờ ảo và nhạt nhoà hơn. Nó tràn ngập ánh trăng vàng đẹp đẽ. Nhà thơ không chỉ tả bằng mắt mà còn cảm nhận bằng nội tâm của mình. Do đó, không thể nhìn nhận ra được đâu là thực, đâu là ảo và dường như càng về cuối thì tác giả cảm nhận tâm linh đó càng lấn át cái hiễn thực sẵn có. Phải chăng vì lẽ đó mà tác giả đã hỏi một câu hỏi rất mơ màng:

    "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay?"

    Dường như câu thơ tràn ngập sự mong chờ , niềm hy vọng lẫn nỗi buồn man mác trong nhà thơ. Rõ ràng không có sự đặc sắc của bút pháp khắc hoạ được linh hồn của một xứ sở mà điểm quan trọng là đã gợi lên cho ngườiđọc một tình yêu dịu dàng mà sâu sắc.

    "Mơ khách đường xa khách đừờng xa
    Áo em trắng quá nhìn không ra
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
    Ai biết tình ai có đậm đà"

    Ai đã và xứ Huế thì mới biết được Huế, biết được cái không gian mờ ảo của nơi này. Huế vẫn mưa nhiều, lắmsương khói, do đó, cảnh vật thật đậm đà và đẹp đẽ hiện ra cho người đọc thấy và chiêm ngưỡng. Sương khói trắng và áo em cũng trắng, em và sương khói dường nhý đã hoà vào một, lúc mập mờ khó hiện, lúc lại rõ nét, chính xác là người con gái xứ Huế. Hàn Mặc Tử vẫn là một nhà thơ lãng mạn đích thực nên tác giả nói bằng tâm tưởng gieo vào lòng người đọc một thoáng bâng khuâng, người thiếu nữ Huế týõi đẹp quá, kín đáo quá, ai có biết tình yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ nhý lớp sương khói mờ ảo của xứ Huế này thôi. Dường nhý tác giả cảm thấy hụt hẫng, buồn chán và thất vọng. Để rồi tự hỏi mình rằng "Ai biết tình ai có đậm đà". "Ai", "tình ai"đó có phải là tác giả hay là một người nào khác. Như ta đã biết, mối tình của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc là một mối tình rất sâu đậm. Có lẽ khi nhìn vào bức tranh mà Hoàng Cúc tặng, tác giả đã tự hỏi mình xem tình cảm đó còn bền chặt hay không? Người con gái đó có còn dành tình cảm cho mình nữa không?... Rất nhiều câu hỏi mà tác giả đã tự đặt ra cho mình. Nhưng rồi tất cả những câu hỏi đó đều không có câu trả lời và chìm đắm trong giây phút im lặng, đợi chờ và vụt bay niềm hy vọng. Có thể nói thơ Hàn Mặc Tử luôn để lại một chút gì đó trong tâm trí của người đọc tình cảm rất sâu đậm mặn mà của những mối tình đơn phương. Một con người yêu chỉ trong sự nhung nhớ, không dám ngỏ lời, Hàn Mặc Tử là vậy, cũng luôn là tâm điểm cho những bài thơ tình và "Đây thôn Vĩ Dạ" cũng vậy, nó chất chứa bao nỗi niềm, bao sự gửi gắm. Đọc bài thơ ta ngỡ như đó là một mối tình trong mộng tưởng. Cảnh rất đẹp, rất hữu tình, âm điệu thiết tha, tình tứ. Tình cũng rất đẹp, nhưng thực ra đó cũng chỉ là mộng ảo mà thôi. Nó quá xa vời mênh mông. Áo trắng giai nhân- màu trắng tình tứ ấy đã trở thành hoài niệm trong niềm thương nhớ của thi sĩ đa tình mà nhiều bất hạnh. Tóm lai, "Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơđể ta nhớ và ta thương.

    "Đây thôn Vĩ Dạ" in trong tập "Thơ điên"(1939), tác phẩm được xem là một cung đàn êm ái trong bản nhạcđời đầy mất mát phiền muộn của Hàn Mặc Tử . Tác phẩm ghi nhận dấu ấn thiên tài của nhà thơ trên chất liệu ngôn từ, nỗi buồn nhân thế, nỗi niềm của một thi nhân đa sầu, đa cảm sẽ ám ảnh mãi trong tâm trí người đọc, không chỉ một thời mà là mãi mãi.

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
dien dan sinh vien| thu vien cuoc song| thoi trang han quoc | cho thuê đồ cưới đẹp giá rẻ | bán laptop cũ giá rẻ | giày cao gót Tải game iwin online mới nhất| Tai game bigkool ve may, Tai game ionline mien phi, tai game bigkool online 2014, trang tai game bigkool mien phi Lap dat gian phoi thong minh gia re | CA DO M88| DANG KY W88| chọn sim phong thuy hợp tuổi| công cụ xem phong thuy sim theo năm sinh| trang web tra phong thuy sim chính xác| nghiên cứu phong thuy ứng dụng| chọn sim phong thuy hợp mệnh| sim so dep| thiet ke van phong| in to roi| sua nha