Đề bài:

Bình giảng khổ thơ đề để từ đó phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên.

Gợi ý làm bài:

“Tu… oa…Tu…oa”. Một tiếng còi tàu ngân dài trong sương sớm. Thôi thúc. Giục giã. Một chuyến tàu nữa lại ra đi… Ô hay ! những con tàu, những “Tiếng hát con tàu”. Đâu đây trong không gian tĩnh mịch bỗng vang lên những vần thơ tự tình.

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”

Tây Bắc, một địa danh có lẽ không mấy xa lạ đối với mỗi chúng ta. Nó là miền Tây của Tổ quốc, nơi có địa danh chiến trường Điện Biên Phủ nổi tiếng. Nơi đây còn là khát vọng của những ai muốn “cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu” với nhân dân cần lao.

“Tây Bắc ư ? Có riêng gì Tây Bắc”

“Thật là Tây Bắc đấy ư? Không ! Đâu chỉ riêng gì Tây Bắc. Lạ lùng thay ! Một sự thật lại thoáng chút nghi ngờ? Tại sao vậy? Có gì khó hiểu đâu! Vẫn là Tây Bắc đấy thôi nhưng bây giờ không phải là một “Tây Bắc chìm trong biển máu” như thuở nào. Tây Bắc ngày nay đang cuồn cuộn nhịp sống mới dựng xây Tây Bắc, Tây Bắc nơi đang treo lơ lửng những mùa trăng, những trái trăng chín vàng. Tây Bắc chính là Nhân Dân, là Đất Nước, là suối nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật. Tây Bắc là nơi ẩn chứa những đề tài bao la. Tây Bắc, nơi ấy có biết bao kỉ niệm và tình người trong kháng chiến. Tây Bắc, muôn ngàn sợi nhớ sợi thương vấn vương lòng người… Tây Bắc có tất cả những gì anh cần. Vậy thì tại sao anh không đến với Tây Bắc đi? Những con tàu kia đang ngược luồng tìm về Tây Bắc, tại sao anh lại chẳng “hóa những con tàu”. “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”? Vâng. Khi ấy sẽ chẳng có gì cản nổi bước chân anh. Khi ấy đối với anh đâu đâu cũng là Tây Bắc. Và kia “khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát” thì tâm hồn anh đó, tâm hồn anh chính là Tây Bắc “chứ còn đâu”. Anh hãy đến với Tây Bắc đi, đến với người mẹ lớn của dân tộc. Chắc chắn nơi ấy anh sẽ gặp lại chính mình, một con tàu xuôi ngược với những chuyến ra đi. Lòng anh là con tàu, lòng anh cũng muốn ra đi, muốn vượt ga này, qua ga khác để lao vào biển lớn cuộc đời. Tây Bắc đó, hồn anh đó. Lên Tây Bắc thật ra là anh đang trở về với hồn mình đấy thôi!

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu”

Câu hỏi không lời đáp ấy phải chăng là một lời tự chất vấn chính mình? Tựa như khi nhắc đến sóng là nhắc đến muôn vàn gợn sóng lấp lánh, nhắc đến trăng là nhắc đến triệu sao óng ánh trên trời, thì đây, nhắc đến con tàu là nhắc đến một chuyến đi xa. Đi để khám phá những khung trời mới.

“Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”

Tổ quốc lên tiếng hát hay chính lòng anh đang ca khúc hân hoan? Đất nước giờ đã “thay áo mới”, mọi người náo nức bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, quê hương. Lẽ nào anh lại ngây người ra đó. Đọc đoạn thơ ta vừa vui sướng vừa ngỡ ngàng. Không còn đâu nữa bóng dáng một thi sĩ lãng mạn than khóc dước tháp Chàm đổ nát, trước những bức tượng vũ nữ người Chàm đã hoen ố rêu phong. Đã qua rồi một thanh niên mười bảy tuổi với mắt nhìn oán hận “Mang chi xuân đến gợi thêm sầu”. Rũ bỏ lớp vỏ uỷ mị yếu mềm, Chế Lan Viên đã thực sự sống với chính mình:

“Con tàu lên Tây Bắc anh đi chăng
Bạn bè anh đi anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rũ gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vầng trăng”

Nếu bạn có dịp nào đó đến với “lâu đài thơ” Chế Lan Viên trong giai đoạn đổi đời sau này bạn sẽ bắt gặp hình ảnh đất nước – một Tây Bắc thu nhỏ hết sức thú vị – Khái niệm Tây Bắc ở đây bao gồm cả quá khứ, hiện tại. Tây Bắc còn là Tổ quốc, giang sơn, là “Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào”. Tây Bắc đang mời gọi con người đến với nó, chiếm lĩnh nó… Hình như văng vẳng đâu đây lời một nghệ sĩ “có một con tàu lên Tây Bắc, anh đi chăng con tàu của tôi đang “đói những vầng trăng” và tôi đã ra đi rồi. Còn anh, tâm hồn của chính anh gọi anh đi, anh có đi không? Có những tâm hồn họ đang muốn mở rộng để đến với Tây Bắc, riêng anh thì sao? Bạn bè của những nhà văn, họ đã lên đó rồi. Thế mà anh, anh lại chỉ giữ một góc trời nhỏ bé, anh cứ khư khư ôm lấy Hà Nội “hào hoa”. Anh có biết đâu ngoài cửa ô anh ở ;những cái đẹp, cái thi tứ, cái đề tài mà anh không có đang vẫy gọi anh. Anh là người sáng tạo nghệ thuật, anh ý thức được rằng “không có thơ giữa lòng đóng khép” thế thì đất nước mênh mông chờ đợi trên kia sao anh chưa ra đi? Lời trách móc cứ mãi thì thầm, nhẹ nhàng rồi đột ngột chuyển sang một lời mời gọi hay đúng hơn là một lời khuyên.

“Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”.

Như vậy, vẫn có một cái nút giúp chúng ta hiểu về chủ thể trữ tình. Tâm hồn anh cũng muốn ra đi, muốn về với Tây Bắc. Khao khát được về Tây Bắc để nghe Tổ quốc “bốn bề lên tiếng hát”, để được nghe “mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào”… Rồi nhận được lời mời thống thiết, anh đã quyết định trở về.

“Ôi kháng chiến! Mười năm qua như ngọc
Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”

Vậy là… cuối cùng anh cũng đã được về với quê xưa, được tận hưởng cái hạnh phúc ngọt ngào khi trìu mến gọi hai tiếng “Tây Bắc”. “Mười năm qua như ngọn lửa” hòa mình và nhỏ máu trên mảnh đất quê hương, họ Chế đã gửi ở nơi ấy bao niềm thương, nỗi nhớ. Xa Tây Bắc, giờ lại lên với Tây Bắc, phải chăng đó là hạnh phúc tuyệt vời nhất. Hạnh phúc đó đã hơn một lần được họ Chế nhắc đến trong một bài thơ khác:

“Ôi cái thuở lòng ta yêu Tổ quốc
Hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên”

Hạnh phúc đầu tiên khi được khoác lên người màu áo thư sinh nho nhã đã được Thanh Tịnh miêu tả xuất thần trong một “ngày đi học”. Hạnh phúc đáng nhớ của tình yêu trong:

“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”

Khuấy động không ít trong thơ Thế Lữ, Xuân Diệu… Hạnh phúc vĩnh hằng ngày Chúa sáng thế, nỗi niềm khao khát của con người mong gặp Chúa đã được nhắc nhiều trong “Thánh vịnh” hạnh phúc buổi đầu gặp lại Nhân Dân được họ Chế vẽ lại bằng những nét bút kì ảo tuyệt vời:

“Con gặp lại nhân dân như nai suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ dùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”.

Độc đáo thay! Mở đầu bằng một câu hỏi và kết thúc lại là một khúc thắc mắc hay đúng hơn là một sự băn khoăn: Đất nước đang gọi ta hay chính lòng ta đang gọi ta? Câu trả lời là không cần thiết. Vì tất cả chúng ta đều biết rằng đất nước, nhân dân và tác giả đã hòa làm một; tuôn chảy thành bản tình ca yêu thương, khát vọng và đầy mộng tưởng.

“Ai dám bảo con tàu không mộng tưởng,
Mỗi đêm khuya tàu không uống một vầng trăng”.

Bài thơ ngân lên giai điệu của bản giao hưởng, cuốn con người về với kỉ niệm, về với tình người… và kết thúc với một lời thôi thúc, một khúc hát lên đường…